Lạm phát và mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
LỜI MỞ ĐẦU
Trong đời sống hàng ngày, lạm phát là một trong những vấn
đề của kinh tế học vĩ mô. Nó đã trở thành mối quan tâm lớn của các nhà chính trị
và công chúng. Lạm phát dã được đề cập rất nhiều trong các công trình nghiên cứu
của các nhà kinh tế .
Để triển khai thực
hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng, cần phải động viên mọi
nguồn lực tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Tăng trưởng bền vững và ổn định lạm phát ở mức thấp đó là những mục tiêu hàng đầu
của điều tiết vĩ mô ở tất cả các nước. Không có gì đáng ngạc nhiên khi câu hỏi
có sự tồn tại và bản chất của mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế đã
được các nhà kinh tế hoạch định chính sách đặc biệt quan tâm và trở thành trung
tâm của nhiều cuộc tranh luận về chính sách.
Chính vì những tác hại to lớn do lạm phát gây ra cho nền
kinh tế mà việc nghiên cứu lạm phát là ọt vấn đề cần thiết và cấp bách đối với
nền kinh tế đặc biệt là nền kinh tế thị trường còn non nớt như nền kinh tế ở nước
ta. Chúng ta cần phải tìm hiểu xem lạm phát lá gì ? Do đâu mà có lạm phát ? Tại
sao người ta lại quan tâm đến lạm phát?
Bài viết này sẽ điểm lại một cách có hệ thống các lý thuyết,
các bằng chứng thực nghiệm về lạm phát và mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng
kinh tế cũng như đưa ra một số gợi ý về hướng điều tiết vĩ mô của Việt Nam
trong thời gian tới.
Do khả năng và điều kiện thời gian hạn chế, chắc rằng
trong bài viết không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong được cô xem xét và phê bình
để em có thể có bài viết tốt hơn.
Chương I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT VÀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ.
I. Khái niệm về lạm phát
1). Lạm phát là gì ?
- Lạm phát xảy ra khi mức giá
chung thay đổi. Khi mức gia tăng lên được gọi là lạm phát, khi mức giá giảm xuống
thì được gọi là giảm phát. Vậy, lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình
theo thời gian.
- Cố định lạm phát ở mức thấp là môi trường kinh tế vĩ mô
thuận lợi để khuyến khích tiết kiệm, mở rộng đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Cả lạm phát quá cao và lạm phát quá thấp đều có ảnh hưởng tiêu cực đến
tăng trưởng kinh tế.
2). Lý thuyết về mối quan hệ giữa
lạm phát và tăng trưởng kinh tế
- Lạm phát được coi là một hiện tượng tất yếu của các nền
kinh tế đang tăng trưởng trong khi phải đối phó với những mất cân đối mang tính
cơ cấu. Các nhà cơ cấu tin rằng giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối
quan hệ đánh đổi lẫn nhau. Những lỗ lực nhằm kiềm chế lạm phát có xu hướng làm
tăng thất nghiệp và gây ra tình trạng đình trệ sản xuất, và do đó bất lợi cho tăng
trưởng kinh tế. Một xã hội dành ưu tiên cho tăng trưởng thì phải chấp nhận lạm
phát đi kèm với nó.
3,
Tăng trưởng kinh tế và các công cụ phản ánh
Để phản ánh tăng trưởng kinh tế , các nhà kinh tế sử dụng
số liệu về GDP – một chỉ tiêu phản ánh tổng thu nhập của mọi người dân trong nền
kinh tế .
Để phản ánh rõ hơn về tăng trưởng kinh tế , người ta thiết
lập mô hình tăng trưởng kinh tế có tên là: “ mô hình solow “ . Mô hình solow chỉ ra ảnh hưởng của tiết kiệm , tỷ lệ tăng
dân số và tiến bộ công nghệ với sự tăng trưởng theo thời gian của sản lượng . Mô
hình còn xác định một vài nguyên nhân gây ra sự khác biệt lớn về mức sống giữa
các nước.
Sự tăng trưởng kinh tế của các nước không phải lúc nào cũng
dương mà trong thời kì khủng hoảng , nền kinh tế suy thoái thì mức tăng trưởng
kinh tế sẽ đạt giá trị âm.
4, Nguyên nhân gây lạm phát
4.1. Cung ứng tiền tệ
và lạm phát.
4.2. Chi tiêu công ăn
việc làm cao và lạm phát.
4.3. Thâm hụt ngân sách
và lạm phát .
4.4. Lạm phát theo tỷ
giá hối đoái.
5, Mối quan hệ giữa lạm phát và
tăng trưởng kinh tế
Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai mặt của xã hội , là
hai vấn đề kinh tế trong nền kinh tế . Lạm phát có thể coi là kẻ thù của tăng
trưởng kinh tế nhưng nó lại là hai vấn đề luôn tồn tại song song với nhau .
Trong thực tế , không một quốc gia nào dù phát triển đến đâu
cũng không tránh khỏi lạm phát . Bất cứ một nền kinh tế của quốc gia nào đều cũng
đã trải qua các cuộc khủnh haỏng kinh tế và tỷ lệ lạm phát tăng với những quy mô
khác nhau . Tỷ lệ lạm phát tăng cao sẽ đẩy giá cả hàng hoá chung tăng lên mà tiền
lương danh nghĩa của các công nhân không tăng do đó tiền lương thực tế của họ sẽ
giảm đi. Đẻ tồn tại các công nhân sẽ tổ chức đấu tranh , bãi công đòi tăng lương
và cho sản xuất trì trệ , đình đốn khiến cho nền kinh tế gặp nhiều khó khăn , tốc
độ tăng trưởng kinh tế giảm.Khi nền kinh tế găp khó khăn , suy thoái sẽ làm thâm
hụt ngân sách và đó là điều kiện , nguyên nhân gây ra lạm phát .
Khi lạm phát tăng cao gây ra siêu lạm phát làm đồng nội tệ
rất nhanh , khi dố người dân sẽ ồ ạt bán nội tệ để mua ngoại tệ . Tệ nạn tham
nhũng tăng cao , nạn buôn lậu phát triển mạnh , tình trạng đầu cơ trái phép tăng
nhanh , trốn thuế và thuế không thu được đã gây ra tình trạng nguồn thu của nhà
nước bị tổn hại nặng nề càng làm cho thâm hụt ngân sách trầm trọng dẫn đến tỷ lệ
lạm phát cao.
II. Các quan niệm về lạm phát
trong lịch sử kinh tế cận đại.
- Trong lịch sử, tình trạng lạm phát được coi là xảy ra
khi nào khối tiền tệ lưu hành quá thưa đối với nhu cầu của nền kinh tế. Để xét đoán
tình trạng đó, các nhà kinh tế đã có ba quan niệm kế tiếp nhau trong thời gian.
Ba quan niệm nay phù hợp với trình độ hiểu biết càng ngày càng cao hơn về mối tương
quan giữa tiền tệ và kinh tế.
1). Quan niệm thứ nhất :
- Cho rằng có lạm phát khi số tiền lưu hành so với trữ
kim của ngân hàng phát hành quá nhiều. Tuy quan niệm này ngày nay đã lỗi thời,
chúng ta cũng cần xem xét nó.
Vào thời kỳnửa sau thế kỷ 19, khi
khi chế độ kim bản vị thịnh hành, quan niệm lạm phát này là một quan niệm thông
thường.
Quan niệm này quá đơn giản, bởi
vì tỷ lệ bảo đảm là một tiêu chuẩn quá cứng rắn. Trong thực tế, có những trường
hợp tỷ lệ bảo đảm pháp định vẫn được tôn trọng mà lạm phát vẫn xảy ra, bởi vì
giá cả mọi thứ đều lên cao, hàng hoá khan hiếm,..v.v..
2). Quan niệm thứ hai :
- Là một quan niệm đã
được phổ biến sau cuộc thể chiến thứ nhất kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế
1929-1933, quan niệm này có thể coi là một quan niệm tĩnh, về lạm phát, người
ta so sánh hai khối : khối hàng hoá và dịch vụ có thể đem bán trên thị trường và
khối tiền tệ mànhân dân có thể sử dụng mua hàng.
Nếu hai khối này có giá trị ngang nhau, tính theo mức giá
cả hiện hữu, thì không có lạm phát hay giảm phát. Nếu vì lý do gì đó khối tiền
tệ tăng thêm trong khi khối hàng hoá và dịch vụ vẫn không thay đổi, tức là áp lực
lạm phát xuất hiện. Khối tiền tệ càng tăng thêm thì áp lực lạm phát càng nặng hơn, tình trạng này khiến cho giá mọi hàng
hoá, dịch vụ đều tăng cao. Nếu giá đó tiếp tục tăng thì dân cư lại cần nhiều tiền
hơn để sản xuất, trao đổi, ..v.v..Do đó ngân hàng lại phải phát hành thêm tiền,
các nhà kinh tế gọi là nạn “lạm phát tự dưỡng”.
Quan niệm tĩnh
về lạm phát tuy giúp hiểu rõ về hiện tượng lạm phát, nhưng không cho biết rõ
nguyên nhân của lạm phát. Chính vì thế mà từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế
1929-1933 đã xuất hiện một quan niệm mới có tính cách động về lạm phát.
3). Quan niệm thứ ba :
-Trong sự tung thêm tiền vào bộ máy kinh tế, cần phân biệt
2 giai đoạn :
+ Giai đoạn 1 : Trong đó nềnkinh tế chưa đạt đến
mức toàn dụng. Trong giai đoạn này, sự tung tiền không hề đưa tới lạm phát, nhưng
tới một lúc nào đó sự tắc nghẽn có thể xuất hiện trong một vài lĩnh vực hay
trong tất cả các lĩnh vực. Lúc đó người
ta bước vào giai đoạn hai, tức là giai đoạn nền kinh tế đã toàn dụng.
+ Giai đoạn 2 : Trong giai đoạn này, nếu người ta tiếp tục tung thêm tiền
vào bộ máy kinh tế tất nhiên khối hàng hoá và dịch vụ sẽ không sao tăng bằng khối
tiền tệ. Nạn lạm phát lúc đó xảy ra và dấu hiệu của nó là sự tăng gia của mọi
giá cả, giá trị của tiền tệ ngày càng giảm bớt.
Chương II
THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ
MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM.
I. Nguyên nhân cơ bản gây ra lạm
phát :
- Lạm phát là một phạm trù
kinh tế khách quan, là vấn đề của mọi thời đại, mọi nền kinh tế tiền tệ. Chừng
nào còn tồn tại nền kinh tế tiền tệ, thì còn lạm phát, người ta chỉ có thể kiềm
chế mức độ lạm phát sao cho phù hợp với sự phát triển nền kinh tế, mà ít gây ra
những hậu quả tai hại. Từ đó, có thể phân định nhiều mức độ lạm phát sao cho phù
hợp với sự phát triển của nền kinh tế, từ lạm phát “nước kiệu” (chung quanh
10%) tới lạm phát “phi mã”, thậm chí là siêu tốc, tức là tình trạng bùng nổ giá
cả hoàn toàn không thể kiểm soát được, trong trường hợp này dấu hiệu tiền tệ hầu
như không còn ý nghĩa nữa.
1). Nguyên nhân thứ nhất :
- Lạm phát bởi tăng cầu,
khi cầu không kèm theo sự gia tăng sản xuất, hàng hoá, dịch vụ. Vậy tạo tiền thái
quá của lượng tiền tệ diễn ra trong bối cảnh này.
2). Nguyên nhân thứ hai :
- Lạm phát do tăng chi phí
sản xuất, khi việc tăng chi phí sản xuất làm tăng giá sản xuất. Có thể do nhiều
nguyên nhân :
+ Tăng những phương tiện đặc thù riêng của
sản xuất.
+ Tăng chi phí phân xưởng.
II. Thực tiễn trong mối quan hệ
giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế :
1).Các bằng chứng thực nghiệm:
Nghiên cứu gần đây nhất là của
M.Khan và A.Senchadji (năm 2000). Các tác giả đã sử dụng các kỹ thuật phân tích
hiện đại nhất để kiểm định mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng. Công trình
của các ông bao quát số liệu của 140 nước trong đó có cả các nước phát triển và
các nước đã công nghiệp hoá trong giaiđoạn 1960-1998. Một lần nữa kết quả cho
thấy có tồn tại một mức ngưỡng mà dưới đó lạm phát và tăng trưởng có mối tương
quan dương và trên đó lạm phát gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng. Một
phát kiến rất có ý nghĩa của các tác giả là mức ngưỡng đó khác nhau giữa các khối
nước ở các nước công nghiệp, mức ngưỡng này rất thấp chỉ vào khoảng 1-3% năm,
trong khi đó ở các nước đang phát triển mức ngưỡng này vào khoảng 7-11%.
Bằng chứng thực nghiệm ở Việt
Nam
dường như cũng phù hợp với kết quả ở trên. Bảng dưới đây cho thấy mối quan hệ
phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng trong 14 năm đổi mới. Vào những năm 80,
lạm phát đã khiến nền kinh tế lâm vào khủng hoảng. Song từ năm 1992 khi chúng
ta đã kiềm chế được lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế không ngừng được cải
thiện. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 1992-1997 là 8,8%, trong
khi tỷ lệ lạm phát bình quân là 9,7%. Nhưng từ năm 1997 trở lại đây lạm phát ở
mức rất thấp và GDP cũng tăng chậm. NĂm 1998-1999 tốc độ giảm xuống dưới 6%_một
hiện tượng đáng lo ngại với một nền kinh tế như nước ta có tốc độ tăng dân số
2% năm, tỷ lệ tăng năng suất lao động khoảng 5-7% năm và tỷ lệ thất nghiệp 7%.
Lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam 1986-1999
Đơn vị : %
GDP
Lạm_phát
|
1986
2.33
774.7
|
1987
3.64
223.1
|
1988
5.98
393.8
|
1989
4.69
34.7
|
1990
5.10
67.1
|
1991
5.96
67.5
|
1992
8.65
17.5
|
1993
8.07
5.2
|
1994
8.84
14.4
|
1995
9.56
12.7
|
1996
9.34
4.5
|
1997
8.80
3.5
|
1998
5.80
9.2
|
1999
4.80
0.1
|
Tóm lại, cả lý thuyết và thực
tiễn đều cho thấy mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế có thể biểu
diễn bằng hình chữ “U” ngược. Điều đó hàmý rằng ở mỗi nước tồn tại một phạm vi
lạm phát “an toàn” khi mà lạm phát và tăng trưởng có mối quan hệ cùng chiều.
Trong trường hợp đó, lạm phát là cái giá phải trả cho tăng trưởng kinh tế. Nới
lỏng tài khoá và tiền tệ, một mặt, có xu hướng làm tăng lạm phát, mặt khác, sẽ
có tác dụng khuyến khích đầu tư, mở rộng tổng cầu và do vậy cho phép sử dụng đầy
đủ hơn các nguồn lực hiện có và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, lạm phát
quá cao chắc chắn sẽ ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế. Trong cả hai trường
hợp_lạm phát quá cao hoặc quá thấp_chính phủ đều cần có các biện pháp điều chỉnh
sao cho có lợi cho tăng trưởng kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo ổn định
kinh tế vĩ mô.
Trên cơ sở khuôn khổ lý thuyết,
kinh nghiệm quốc tế diễn biến lạm phát và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam những năm
qua, nhiều học giả cho rằng mức lạm tối ưu đối với Việt nam có thể nằm trong
khoảng 5-7% năm.
2). Thực tiễn của vấn đề :
- Trong mối quan hệ giữa lạm
phát và tăng trưởng kinh tế, câu hỏi đặt ra là nước có lạm phát cao tăng trưởng
nhanh hơn hay chậm hơn nước có lạm phát thấp ? Thực tế đã đưa ra lời giải không
cùng một đáp số. Trong thời kỳ 1971-1991, Thuỵ Sĩ tăng trưởng bình quân 1.1% năm,
mặc dù đây là nước có mức lạm phát thấp thứ hai trong số 20 nước được nghiên cứu.
Trong khi đó Italy ,
Tây Ban Nha , Iceland lại đạt được sự tăng trưởng
cao dù mức lạm phát hơn 10%.
- Về mối quan hệ giữa lạm
phát và thất nghiệp, lý thuyết của J.M.Keynes với luận điểm lấy lạm phát và bội
chi ngân sách để xoá khủng hoảng và thất nghiệp đã được nhiều nước tư bản ứng dụng
thành công sau thập kỉ 1933. Nhưng tiếp đó, từ những năm 1960, lạm phát tràn
lan mà vẫn không loại trừ được thất nghiệp. Trong khi đó thời kỳ1974-1991, các
nước lạm phát thấp cũng có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất.
- Trong mối quan hệ gia tăng
lượng tiền trong lưu thông với mức độ lạm phát
thực tế cũng không diễn ra hoàn toàn
trùng hợp với lý thuyết. Năm 1990, chúng ta tăng khối lượng tiền giấy trong lưu
thông thêm 73%, tỷ lệ lạm phát lên 67%. Nhưng năm 1991, tiền giấy lưu thông chỉ
tăng 41%, tỷ lệ lạm phát lại lên tới 64%; Trong khi đó hai năm 1992 và 1993 tiền
phát hành thêm tới 70-80% nhưng tỷ lệ lạm phát lại được kéo xuống 17,6% (1992)
và 5,2% (1993).
Ở nước ta, quá trình kéo lạm phát
xuống và kiềm chế lạm phát ở mức thấp cũng được ghi nhận là thành tựu nổi bật
trong công cuộc đổi mới. Có thể khái quát diễn biến của lạm phát và kết quả kiềm
chế lạm phát ở nước ta trong bảng sau đây :
% chỉ số tăng giá bán lẻ hàng
hoá và dịch vụ (CPI)
Năm
|
Cả năm
|
1986
1987
1988
1989
1990
1991
1992
1992
1994
1995 ( dự kiến)
|
774.7
223.1
393.8
34.7
67.4
67.6
17.6
5.2
14.4
15.0
|
Bảng trên chothấy sau nhiều năm liền lạm
phát ở mức 3 con số/năm, năm 1989 lần đầu tiên ta đã kéo lạm phát xuống hai con
số. Đặc biệt năm 1993, lạm phát từ 17,6% (1992) xuống 5,2%, nhưng GDP vẫn đạt mức
tăng cao 7,2%.
Tuy vậy chúng ta vẫn chưa đưa
được lạm phát xuống mức mong muốn và đặc biệt là những khó khăn trong tương
lai. Do chỗ mức lạm phát không được dự báo chính xác trong nhiều trường hợp đã
hạn chế tính ham muốn chấp nhận rủi ro của các nhà đầu tư. Đồng thời gây khó khăn
cho việc thực hiện các hợp đồng kinh tế, hoạch định chính sách tiền lương, lãi
suất và thuế. Vì vậy, cùngvới việc kéo lạm phát xuống 1 con số còn nổi lên một
vấn đề rất trọng yếu là phải giữ được mức lạm phát đó ổn định. Để thực hiện công
việc trên nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến yêu cầu xây dựng hệ thống
chính sách tiền tệ, tài chính hiệu quả; tỷ giá hối đoái linh hoạt; dữ trữ quốc
gia đủ mạnh và can thiệp vào nền kinh tế đúng lúc...
Xin nhấn mạnh thêm một số điểm
như sau :
+ Thứ nhất : Đẩy mạnh hơn nữa quá trình chuyển đổi nền kinh tế và cơ
chế quản lý kinh tế. Trên cơ sở đó có thể tận dụng tối đa ưu thế của thị trường
và khai thác tối ưu tiềm năng của nền sản xuất xã hội. Nhờ vậy màtăng nhanh số
lượng chủng loại vàchất lượng hàng hoá cung ứng ra thị trường.
+ Thứ hai : ổn định giá cả những mặt hàng thiết yếu và những mặt hàng
mà nhà nước độc quyền sản xuất kinh doanh.
+ Thứ ba : Thước đo thông thường nhất của lạm phát là CPI, nhưng việc
đo lường CPI không phải luôn chính xác. Vì nó vừa không thể hiện được đầy đủ những
biến đổi chất lượng hàng hoá và do nhưng sai sót về mặt kỹ thuất tính toán.
+ Thứ tư : Cần nhận thức rằng chống và kiềm
giữ lạm phát không phải là mục đích của điều tiết kinh tế vĩ mô, mà chỉ là công
cụ, phương tiện, cách thức để tạo môi trường và kích thích tăng trưởng kinh tế.
Nghĩa là toàn bộ công cụ, cách thức vĩ mô đều phải hướng tới một mục đích duy
nhất là thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững.
Tóm lại, chống và kiềm giữ
lạm phát đòi hỏi phải vừa sử dụng kết hợp nhiều công cụ, biện pháp đồng bộ; vừa
phải nghiên cứu lý thuyết không ngừng và kiểm nghiệm thường xuyên mọi lý thuyết
trong thực tiễn.
Chương III
CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC LẠM PHÁT
I, Những biện pháp tình thế
Những biện pháp này
được áp dụng với mục tiêu giạm tức thời “cơn sốt lạm phát “ trên cơ sở đó sẽ áp
dụng các biện pháp ổn định tiền tệ lâu dài . Các biện pháp này thường được áp dụng
khi nền kinh tế lâm vào tình trạng siêu lạm phát .
Thứ
nhất :các
biện pháp tình thế thường được chính phủ các nước áp dụng , trước hết là giảm lượng
tiền giấy trong nền kinh tế như ngừng phát hành tiền vào lưu thông . Biện pháp
này còn gọi là chính sách đóng băng tiền tệ . Tỷ lệ lạm phát tăng cao ngay lập
tức ngân hàng trung ương phải dừng các biện pháp có thể đưa đến tăng cung ứng
tiền tệ như ngừng thực hiện các nghiệp vụ
triết khấu và tái triết khấu đối với các tổ chức tín dụng , dừng việc mua vào các
chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ , không phát hành tiền bù đắp bội
chi ngân sách. Nhà nước áp dụng các biện
pháp làm giảm lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế như: ngân hàng trung ương bán
ra các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ , bán ngoại tệ vàvay , phát
hành các công cụ nợ của chính phủ để vay tiền trong nền kinh tế bù đắp cho bội
chi ngân sách nhà nước , tăng lãi suất tiền gửi đặc biệt là tăng lãi suất tiền
gửi tiét kiệm dân cư . các biện pháp này rất có hiệu lực vì trong một thời gian
ngắn nó có thể giảm bớt được một khối lươngj khá lớn tiền nhàn rỗi trong dân cư
do đó giảm được sức ép lên giá cả hàng hoá vầ dịch vụ trên thị trường . ở việt
nam các biện pháp này đã dược áp dụng thành công vào cuối những năm 80, đầu những
năm 90 .
Thứ
hai
:thi hành chính sách tài chính thắt chặt như tạm hoãn những khoản chi chưa cần
thiết trong nền kinh tế , cân đối lại ngân sách và cắt giảm chi tiêu đến mức có
thể được .
Thứ
ba :
tăng quỹ hàng hoá tiêu dùng để cân đối với số lượng tiền có trong lưu thông bằng
cách khuyến khichs tự do mậu dịch , giảm nhẹ thuế quan và các biện pháp cần thiết
khác để thu hút hàng hoá từ ngoài vào.
Thứ
tư : đi
vay và xin viện trợ từ nước ngoài .
Thứ
năm :
cải cách tiền tệ , đây là biện pháp cuối cùng khi các biện pháp trên chưa đem lại
hiệu quả mong muốn .
II. Những biện pháp chiến lược
Đây là những biện
pháp có tác động lâu dài đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân . Tổng hợp
các biện pháp này sẽ tạo ra sức mạnh kinh tế lâu dài cho đất nước
Thứ
nhất :
thúc đẩy sự phát triển sản xuất hàng hoá và mở rộng lưu thông hàng hoá. Đây là
biện pháp chiến lược hàng đầu để hạn chế lạm phát , duy trì sự ổn định tiền tệ
trong nền kinh tế quốc dân . Sản xuất trong nước càng phát triển thì càng tạo
tiền đề vững chắc cho sự ổn định tiền tệ . Chú trọng thu hút ngoại tệ qua việc
xuất khẩu hàng hoá , phát triển ngành du lịch …
Thứ
hai :
kiện toàn bộ máy hành chính , cắt giảm biên chế quản lý hành chính . Thực hiện
tốt biện pháp này sẽ góp phần to lớn vào việc giảm chi tiêu thường xuyên của ngân
sách do đó giảm bội chi ngân sách nhà nước .
Thứ
ba :
tăng cường công tác quản lý điều hành ngân sách nhà nước trên cơ sở tăng các
khoản thu cho ngân sách một các hợp lý , chống thất thu , đặc biệt là thất thu
về thuế , nâng cao hiệu quả của các khoản chi ngân sách nhà nước .
III. Một số biện pháp chủ yếu để
kiềm chế lạm phát ở nước ta hiện nay
Tình hình kinh tế tài chính của
nước ta trong những năm vừa qua đạt được sự ổn định và có chiều hướng tốt, nạn
lạm phát đã được kiềm chế và đẩy lùi từ 67.5% năm 1991 xuống còn 17,5% năm
1992, 5,2% (1993), 14.2% (1994), trong khi đó vẫn đảm bảo mức tăng trưởng kinh
tế 8,6% (!992), 8,1% (1993), 8,7% (1994). Tỷ giá VNĐ so với đôla Mỹ từ cuối năm
1991 là 14,194 VNĐ đã lên giá dần và giữ ở mức trên dưới 10.800 VNĐ/USD từ tháng
11.1992 cho đến nay. Đồng thời cán cân thanh toán được cải thiện rõ rệt. Mặt khác
xuất nhập khẩu có xu hướng tăng lên.
Để khắc phục và kiềm chế lạm
phát trong giai đoạn hiện nay cần phải thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ như
sau :
- Trước hết phải khống
chế tỷ lệ bội chi ngân sách ở dưới mức 5% GDP. Bởi và bội chi ngân sách là một
nhân tố quan trọng gâỵ ra sự mất cân đối giữa cung và cầu.
- Phải nâng cao sản lượng hàng
hoá trên cơ sở đẩy mạnh phát triển sản xuất công, nông nghiệp, cụ thể là tạo ra
nhiều lương thực, thực phẩm, một số hàng hoá là tư liệu sản xuất và các loại hàng
hoá là nhiên liệu, năng lượng. Mặt khác cần tiếp tục đổi mới cơ cấu kinh tế và
cải tiến công nghệ, cải tiến kỹ thuật đảm bảo từng bước giảm chi phí sản xuất.
- Về lĩnh vực ngân hàng
với trách nhiệm là một ngành đóng vai trò quan trọng nhất trong việc kiềm chế lạm
phát, cần tiến hành các bước sau :
+ Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng trên cơ sở tích cực
huy động vốn và cho vay hiệu quả các dự án
+ Kiểm soát chặt chẽ cung ứng tiền tệ của ngân hàng nhà nước
cho mục tiêu ngoại tệ, ổn định thị trường ngoại tệ và tỷ giá đồng Việt Nam .
+ Nâng cao hiệu quả sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc.
+ Tăng cường hiệu lực của công tác thanh tra đối với ngân
hàng thương mại.
+ Xử lý tôt mối quan hệ với ngân sách nhà nước, phát triển
thị trường vốn, đồng thời xúc tiến nhanh việc thiết lập thị trường chứng khoán ở
Việt Nam và sự hoà nhập của thị trường này vào cộng đồng kinh tế quốc tế, nhất
là từ khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của khối ASEAN để thuhútnhanh chóng
hơn nữa nguồn vốn nước ngoài góp phần phát triển kinh tế đất nước.
Ngoài ra cần tổ chức quản lý nợ nước ngoài có kế hoạch và
sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn vào Việt Nam dưới nhiều hình thức khác nhau
như vay vốn của IMF, WB, ADB,..
Tóm lạ, trong tình hình hiện nay cần có sự phối hợp đồng
bộ giữa các ngành, các cấp trong việc thực hiện có hiệu quả về chính sách kinh
tế vi mô và vĩ mô của nhà nước (giải quyết tốt vấn đề thâm hụt ngân sách, chấn
chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu, điều hành tốt giá cả và lưu thông hàng hoá,..) để
đảm bảo vừa tăng trưởng kinh tế vừa kiềm chế lạm phát ở mức tốt nhất.
KẾT LUẬN
Kiềm chế lạm phát là một vấn
đề có tầm quan trọng hàng đầu trong chính sách kinh tế của các nước nói chung và
ở Việt Nam
ta nói riêng. Từ khi Đảng và nhà nước ta chuyển nền kinh tế tập trung sang nền
kinh tế thị trường đã xem nó là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, cũng như về lâu dài,
nên đã tiến hành cùng lúc nhiều biện pháp có kết quả về chính sách kinh tế để
kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vì
vậy việc tìm hiểu bản chất , nguyên nhân gây ra lạm phát là điều hết sức quan
trọng và cần thiết . Từ đó ta có thể tìm ra giải pháo tối ưu nhất để khắc phục
lạm phát và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất . Lạm phát luôn đi kèm với tăng
trưởng kinh tế và là kẻ thù của tăng trưởng kinh tế . Nếu chính phủ không cố những
chính sách taì chính linh hoạt thì nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng suy thoái
, lạm phát ở mức cao như những năm đầu của thập kỉ 80 ở nước ta.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tạp chí phát triển kinh tế số 9-1999
2. Tạp chí ngân hàng số 16-1999, số 18-1999, số 3-2000
3. Tạp chí tài chính tháng 8-1998, tháng 9-1999, tháng 10-2001
4. Tạp chí ngân hàng số 12-2001
5. Tạp chí Cộng sản số 9-2000
6. Báo Sài Gòn giải phóng 17-4-1999
7. Giáo trình kinh tế vĩ mô
8. Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ
PHỤ LỤC
Lời mở đầu ....................................................................................................... 1
Chương I – Một số vấn đề lý luận về lạm phát
và mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ................................................................................................................... 2
I. Khái niệm về lạm phát .................................................................................. 2
1.
Lạm phát là gì ?.......................................................................................... 2
2.
Lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng
kinh tế ................ 2
3.
Tăng trưởng kinh tế và các công cụ phản ánh ............................................ 2
4.
Nguyên nhân gây lạm phát ........................................................................ 3
5.
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế .................................... 3
II. Các quan niệm về lạm phát trong lịch sử
kinh tế cận đại ............................. 3
1.
Quan niệm thứ nhất.................................................................................... 4
2.
Quan niệm thứ hai ..................................................................................... 4
3.
Quan niệm thứ ba....................................................................................... 5
Chương II – Thực trạng lạm phá và mối
quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt nam ................................................................................................................ 6
I.Nguyên nhân cơ bản
gây ra lạm phát ............................................................. 6
1.
Nguyên nhân thứ nhất ................................................................................ 6
2.
Nguyên nhân thứ hai ................................................................................... 6
II. Thực tiễn trong mối quan hệ giữa lạm
phát và tăng trưởng kinh tế .............. 6
1.
Các bằng chứng thực nghiệm ..................................................................... 6
2.
Thực tiễn của vấn đề .................................................................................. 8
Chương III – Các giải pháp khắc phục lạm
phát ........................................... 11
I. Những biện pháp tình thế .......................................................................... 11
II. Những biện pháp chiến lược ..................................................................... 12
III. Một số biện pháp chủ yếu để kiềm chế
lạm phát ở nước ta hiện nay ....... 12
Kết luận......................................................................................................... 15
Tài liệu tham khảo........................................................................................ 16